Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

THẦN HỌC VỀ CÁC TÔN GIÁO TRONG VIỄN TƯỢNG ĐA NGUYÊN TÔN GIÁO

Thời sự Thần học – Số 21 – Tháng 09/2000, tr. 61-69

Nguyễn Thanh Phương


Đối với thần học công giáo, thần học về các tôn giáo là một bộ môn quá mới. Thật vậy cho đến đầu thế kỷ XX, quan điểm của thần học công giáo đối với các tôn giáo khác vẫn mang nặng thái độ hộ giáo, tuyệt đối đề cao Kytô giáo như chân đạo, hoàn thiện và duy nhất, còn các tôn giáo khác nói cho cùng chỉ là “tà đạo”.


1. Cách đánh giá trước đây về các tôn giáo ngoài Kitô giáo


Suốt dọc 20 thế kỷ, mối bận tâm chính của các thần học gia vẫn chỉ là vấn đề cứu rỗi của những người ở ngoài Kitô giáo. Nếu như “ai đón nhận Tin Mừng và chịu phép thanh tẩy sẽ được cứu độ” (Mc 16,16) thì số phận những người ngoài Kitô giáo sẽ ra sao? Bao nhiêu người ăn ngay ở lành nhưng vì một lý do nào đó vẫn chưa nghe biết Tin Mừng hay chưa gia nhập Đạo sẽ bị luận phạt hay sao? Không lẽ Thiên Chúa giàu lòng từ bi nhân hậu sẽ đối xử với họ như thế hay sao? 

Trong quá khứ, có người đã giải thích câu nói "ngoài Hội thánh không thể nào được cứu rỗi" (Extra Ecclesiam nulla salus) theo chiều hướng bảo thủ và khép kín. Người ta có cảm tưởng là Giáo hội lúc đó cho mình độc quyền cứu độ và ra như còn muốn khóa chặt cánh cửa cứu độ đối với những người không thuộc về Giáo hội Công giáo. Mãi đến giữa thế kỷ XX, trong lá thư đề ngày 8/8/1949 gửi cho Tổng giám mục Boston, Bộ Thánh vụ (tên cũ của Bộ Giáo lý đức tin) mới chính thức đưa ra một giải thích cởi mở hơn. Thánh bộ phân biệt giữa sự cần thiết phải gia nhập Hội thánh để được cứu rỗi (necessitas praecepti) và sự cần thiết của những phương tiện tất yếu (necessitas intrinseca) để được cứu rỗi. Những phương tiện tất yếu để được cứu rỗi là đức tin và bác ái (dựa theo thư gửi Do thái 11,6). Điều này không thể nào thiếu được. Còn việc gia nhập Hội thánh chỉ là cần thiết tương đối, vì không hiệu lực trong hoàn cảnh bất khả kháng : trong trường hợp này, chỉ cần có ước nguyện ám ám tàng và ước nguyện này đã hàm chứa ý định chân thành sẵn sàng tuân theo ý Chúa. 

Sang thập niên 50, các thần học gia tiếp tục đào sâu thêm đề tài thần học về các tôn giáo. Nhiều khảo luận thần học giá trị về vai trò của các tôn giáo trong lịch sử cứu độ được công bố trong giai đoạn này. Chúng ta có thể chia thành hai khuynh hướng căn bản: 

1/ Lập trường thứ nhất cho rằng trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo chúng ta gặp thấy nhiều giá trị tích cực, vì bắt nguồn từ giao ước giữa Thiên Chúa với ông Noe. Các chính nhân của Cựu ước như Abel, Hénok, Noe, Abraham, Melchisedek... được coi là mẫu người của “niềm tin”. Họ đã “bước đi với Thiên Chúa” (St 6,9), đã tin vào Ngài và sống ngay thẳng dựa vào mặc khải tự nhiên và lương tâm. Tuy nhiên, các tôn giáo này không có giá trị cứu rỗi; chúng chỉ đóng vai trò dẫn đưa con người gặp gỡ Đấng Tạo hóa, và do đó cần được Đức Kitô kiện toàn. Đây là chủ trương của Jean Daniélou, Henri de Lubac, Y. Congar[1]. 

2/ Lập trường thứ hai, do Karl Rahner dẫn đầu, có cái nhìn tích cực hơn về vai trò của các tôn giáo. Thiên Chúa ban ơn cứu rỗi cho tất cả các sinh linh. Thế nhưng con người không phải là những đơn tố lẻ loi, mà là thành phần của cộng đoàn xã hội. Chính các TG đã giúp con người biết vươn lên chiều kích siêu việt. Do đó chính các TG đã giúp con người đón nhận ơn cứu rỗi của Thiên Chúa, nhờ đức tin (tuy chỉ là đức tin ám tàng fides implicita) và nhờ hành động bác ái đối với tha nhân (mà Đức Kitô nhìn nhận như là đã thực hiện cho bản thân Ngài). 

Công đồng Vatican II đã khai triển và đẩy mạnh chiều hướng thần học tích cực về giá trị của các TG. Hiến chế “Vui mừng và Hy vọng” khẳng định rằng qua mầu nhiệm nhập thể, chết và sống lại của Ngài, Đức Kitô hành động nơi mỗi người để dẫn đưa họ đạt tới sự canh tân nội tâm. Tác động nói trên của Đức Kitô “không phải chỉ có giá trị cho những ai tin vào Ngài, mà còn cho tất cả mọi người thành tâm thiện chí, được ân sủng tác động một cách vô hình trong tâm hồn. Thật vậy, vì Đức Kitô đã chết cho mọi người và vì ơn gọi cuối cùng của con người thực sự chỉ là duy nhất, nghĩa là do Thiên Chúa, cho nên chúng ta phải tin chắc rằng Thánh linh ban cho mọi người khả năng tham dự vào Mầu nhiệm Phục sinh, qua cách thức mà chỉ duy Thiên Chúa biết được thôi” (GS.22). 

Một vài bản văn của Công đồng còn đi xa hơn nữa. Tuyên ngôn “Thời Đại chúng ta” nhìn thấy nơi các TG sự hiện diện của “tia sáng chân lý chiếu soi mọi người” (NA.2). Hiến chế truyền giáo “Ad Gentes” nhắc lại quan điểm cổ truyền về sự hiện hữu của “hạt giống Ngôi Lời” và “những kho tàng phong phú mà Thiên Chúa đã ban cho các dân tộc do lòng độ lượng của Ngài” (AG.11). Cuối cùng Hiến chế “Ánh sáng muôn dân” ghi nhận những ân sủng đã được Thiên Chúa gieo vào không những “trong tâm trí con người” mà còn “nơi các lễ nghi và tập tục của các dân tộc” (LG.17). 

2. Khai mở thần học về các tôn giáo


Sau Công đồng, có nhiều thay đổi trong tư duy và cách đánh giá vai trò cứu độ của các TG. Trước hết, Công đồng Vaticano đã trả lại ý nghĩa nguyên thủy của câu nói "ngoài Hội thánh không thể được cứu rỗi": nó chỉ áp dụng cho những ai đã trở thành phần tử của Giáo hội công giáo rồi, đã biết sự cần thiết của Hội thánh mà lại từ bỏ Hội thánh (LG.14). Theo công đồng, các người ngoài Kitô giáo đều được quy hướng đến Dân Thiên Chúa, do ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa. Ở đây cần phải hình dung Hội thánh như là Thân thể của đức Kitô, nghĩa là tất cả những ai được kết nạp vào mầu nhiệm Vượt qua của đức Kitô, theo kiểu nói của Hiến chế Vui mừng và Hy vọng số 22. Hội thánh và đức Kitô gắn liền với nhau. Hội thánh là một thực thể mầu nhiệm, một sự thông hiệp thiêng liêng bao gồm hết mọi người công chính từ ông Abel. 

Điểm thay đổi thứ hai là tiến trình đi từ một quan điểm thần học lấy Giáo hội làm trung tâm bước sang quan điểm thần học lấy Đức Kitô làm trung tâm. Hậu quả của nó là giải thể dần quan điểm giáo hội học cổ điển theo đó công thức “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” được hiểu theo nghĩa chặt. Một viễn tượng thần học mới được mở rộng theo đó ơn cứu độ chỉ lệ thuộc vào niềm tin nơi Đức Kitô, Đấng trung gian duy nhất. Bất chấp vai trò và vị thế mà trong quá khứ người ta đã gán cho Giáo hội, không bao giờ có thể đặt Giáo hội ngang hàng với Đức Kitô trong vấn đề cứu độ. Chính Đức Kitô mới là trung tâm điểm của Kitô giáo chứ không phải là Giáo hội. Cũng chỉ duy Ngài là trung gian giữa Thiên Chúa với nhân loại, còn Giáo hội chỉ đóng vai trò dụng cụ và chứng nhân, trong tương quan với mầu nhiệm của Đức Kitô. 

Biến chuyển thứ ba còn sâu sa và triệt để hơn: từ quan điểm lấy Đức Kitô làm trung tâm điểm của Vatican II, một số khuynh hướng thần học hậu công đồng tiến dần đến quan điểm lấy Thiên Chúa làm trung tâm. Một số tác giả cho rằng Thiên Chúa Cha mới là trung tâm cứu độ của một tiến trình nhiêu khê và phức tạp. Tiến trình này khởi đi từ biến cố sáng tạo, ngang qua mầu nhiệm Nhập thể và vẫn tiếp diễn cho đến tận cùng lịch sử. Có người nghĩ rằng qua những ngã đường khác biệt, chồng chéo lên nhau và nhiều khi còn tương phản nhau nữa, nhân loại đang lần mò tiến về cùng một cứu cánh duy nhất[2]. 

Vào thập niên 70, với hướng đi của Vatican II và sự lớn mạnh của phong trào đối thoại liên tôn, hình thành một bộ môn thần học mới: thần học về các tôn giáo. Bộ môn thần học này tương đối mới, chủ đích nghiên cứu vai trò cứu độ của các tôn giáo . Khảo cứu chiều kích cứu độ nơi các tôn giáo, xác định mối tương quan giữa mặc khải với đức tin, giữa niềm tin với tôn giáo, giữa cảm nghiệm tâm linh với sự cứu rỗi. Dĩ nhiên kinh nghiệm tôn giáo nói trên được sống, cảm nghiệm bởi những con người cụ thể trong bối cảnh lịch sử và truyền thống tôn giáo nhất định. Con người tự bản chất là một sinh vật xã hội và một tinh thần nhập thể, cho nên thần học về tôn giáo đương nhiên dẫn đến thần học về các tôn giáo. 

Có lẽ V. Boublik là người đầu tiên đã hệ thống hóa và khai triển những điểm căn bản trên thành một bộ môn thần học về các tôn giáo. Theo ông, mục đích của thần học về các tôn giáo là nghiên cứu vai trò cứu độ của các tôn giáo, dưới ánh sáng của Lời Chúa, với sự trợ lực của đức tin và trong viễn tượng lịch sử cứu độ, theo đó Đức Kitô là Khởi đầu (Alpha) và Chung kết (Omega). Tuy nhiên trong viễn tượng đa nguyên tôn giáo phải hiểu về vai trò “trung gian cứu độ” của Ngài như thế nào?[3]. 

Ông nhìn nhận là chúng ta vẫn chưa hội đủ những điều kiện cần thiết để đưa ra “một giải đáp hữu cơ cho tất cả các vấn đề liên quan đến một hệ thống thần học về các tôn giáo”. Cố gắng của ông chỉ mới là “nêu lên những vấn đề chính”, với ý thức rõ rệt về sự giới hạn của mình để “đưa ra một giải đáp tối hậu” cho vấn đề[4]. Dù sao cho đến nay, tác phẩm của ông vẫn được coi là một cuốn sách nền tảng và tổng quát cho bộ môn thần học về các tôn giáo. 

Kể từ đó, thần học về các TG luôn mở rộng nhãn giới và kiện toàn phương pháp khảo cứu, đồng thời nẩy sinh thêm nhiều khuynh hướng khác biệt. Có những tác giả đã chối danh xưng thần học của các TG, do tính cách đa dạng và dị biệt của các TG. Theo họ, cần phải nghiên cứu từng TG một, đi từ nguồn gốc và sự tiến triển của nó, chứ không nên gồm trọn tất cả vào một gói. Có người lại nhấn mạnh tới khía cạnh thực tiễn nhằm cổ võ cuộc đối thoại liên tôn để đánh tan những đố kị hiềm thù, thay vì tranh luận về những nguyên tắc tín lý trừu tượng. 

Trong một mức độ nào đó chúng ta có thể đúc kết những đề tài quan trọng của thần học về các tôn giáo vào mấy điểm sau đây: 

* Giá trị của các tôn giáo trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. 
* Quan niệm về Thượng đế. 
* Vai trò của Đức Kitô trong kế hoạch cứu độ. 
* Sứ mạng truyền giáo của Giáo hội. 

3. Vấn đề sôi bỏng


Theo Hiệp Hội các thần học gia Ấn độ, “qua cuộc sống của nhiều anh chị em khác tôn giáo sống bên cạnh, chúng ta nhìn thấy nhiều biểu hiệu nói lên sự hiện diện của Đấng Tuyệt đối. Điều đó đòi hỏi chúng ta, dưới ánh sáng của chân lý thần linh, phải xét lại những đánh giá của chúng ta về các tôn giáo và phải tự hỏi chúng ta phải hiểu mục đích cũng như ý nghĩa của những khác biệt đến độ ngạc nhiên nói trên như thế nào? Đâu là vai trò và chức năng của nó trong việc thực hiện ơn cứu độ”[5]

Suốt dọc hai thập niên vừa qua nhiều cuộc tranh luận sôi nổi đã xảy ra và còn tiếp diễn chung quanh vấn đề này. Từ giữa thập niên 80, trào lưu lịch sử khai mở chiều hướng thần học mới, trong đó đa nguyên tôn giáo được nhìn nhận như một thực tại lịch sử. Việc thay đổi này đánh dấu một đổi mới về viễn tượng thần học. Nếu quan niệm cổ điển đã đặt vấn đề cứu độ trong và ngang qua các tôn giáo, quan điểm thần học mới muốn tìm xem đâu là kế hoạch cứu độ phổ quát của Thiên Chúa đối với nhân loại. 

Như thế vấn đề không còn đơn thuần nghiên cứu xem đâu là vai trò mà Kitô giáo có thể qui định cho các tôn giáo kỳ cựu, mà là tìm hiểu lý do sâu thẳm của hiện tượng đa nguyên tôn giáo và ý nghĩa của nó trong chương trình cứu độ. Đâu là những giá trị tiềm ẩn nơi các tôn giáo thật đa dạng và rất khác biệt ấy? Nhìn từ viễn tượng cứu độ, những khác biệt về tôn giáo có ý nghĩa gì và có thể bổ túc cho nhau không? 

Mặc dù vấn đề vẫn đang trong vòng tranh luận và còn quá sớm để có thể nghĩ đến một điểm hội tụ nào đó, nhưng có lẽ đây sẽ là một đề tài thần học chính của tương lai. Chúng ta đang tiếp cận với một viễn tượng thần học về lịch sử cứu độ, trong đó mầu nhiệm nhập thể của Đức Kitô được quan niệm như cao điểm của một chương trình cứu độ rộng lớn, được khởi đi từ biến cố sáng tạo và vẫn còn tiếp diễn cho đến ngày thế mạt. Có người nghĩ rằng đây không phải là một bộ môn thần học suông, y như bao nhiêu bộ môn thần học khác, mà là một cách thế mới để làm thần học, trong bối cảnh đa nguyên tôn giáo. Thật vậy, nếu chấp nhận chiều hướng thần học này sẽ phải đặt lại rất nhiều vấn đề thần học cổ điển từ Tín Lý, Kitô học, Giáo hội học cho đến Phụng vụ và Truyền giáo học. 

Sớm hay muộn rồi ra chúng ta sẽ không thể tránh né được những câu hỏi căn bản trong viễn tượng đa nguyên tôn giáo: Kitô giáo nghĩ gì về vị trí của mình giữa lòng lịch sử nhân loại ? Kitô giáo nghĩ gì về vai trò của mình và của các TG trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa ? Sau hết, khi đối chiếu với từng tôn giáo cụ thể, người Kitô hữu phải nghĩ gì về niềm tin và sứ vụ của mình? 

Mục đích chính bây giờ không còn giới hạn ở việc tìm hiểu vấn đề cứu độ cho các tín đồ của các tôn giáo hoặc vai trò của mỗi truyền thống tôn giáo trong chương trình cứu độ, mà là suy nghĩ về chính chương trình cứu độ của Thiên Chúa đối với nhân loại. Dưới ánh sáng của Tin Mừng, chúng ta phải hiểu như thế nào và nói gì về những biểu hiệu rất phong phú và đa dạng của các kinh nghiệm tôn giáo ngoài Kitô giáo? Hiện tượng đa nguyên tôn giáo hiện nay có ý nghĩa gì trong chương trình cứu độ phổ quát của Thiên Chúa? Phải chăng, theo kế hoạch của Thiên Chúa, mỗi một truyền thống tôn giáo lớn đều đóng vai trò tích cực trong chương trình cứu độ và sẽ tiến dần tới điểm hội tụ? Nếu đúng như vậy, sẽ thực hiện dưới dạng thức nào, ở đâu, bao giờ và như thế nào? 

Các tác giả chủ trương lấy Thiên Chúa làm trung tâm giải thích vai trò cứu độ của Đức Kitô theo nhiều sắc thái và chiều hướng khác nhau. Có người cho rằng cho rằng quan niệm lấy Đức Kitô làm trung tâm cứu độ đang bị vượt qua, trong khi đó một số khác chỉ coi đây như một giả thiết để nghiên cứu, nghĩa là “tạm thời đặt trong ngoặc kép” ngõ hầu có thể thực hiện một cuộc đối thoại bình đẳng với các tôn giáo khác. Có tác giả lạc quan nghĩ rằng kết quả của cuộc đối thoại sẽ chứng tỏ giá trị đích thực của xác tín Kitô giáo về mầu nhiệm cứu độ của Đức Kitô. 

Xem như vậy vai trò cứu độ của Đức Kitô nằm ở trung tâm của vấn đề thần học về đa nguyên tôn giáo. Đa số các tác giả theo khuynh hướng này không tiên thiên phá đổ niềm tin Kitô giáo hay chối bỏ những đòi hỏi chính yếu của đức tin. Tuy nhiên theo họ, tin vào Đức Kitô có nghĩa là tin rằng mình sẽ được cứu độ qua trung gian của Ngài, nhưng không luôn luôn có nghĩa Ngài phải là đấng cứu độ trần gian theo nghĩa cổ điển. Thiên Chúa và Nước Trời là cứu cánh tối hậu mà tất cả các tôn giáo, kể cả Kitô giáo, phải hướng tới, như là vận mệnh chung. Hiển nhiên Đức Kitô vẫn luôn là con đường cho các Kitô hữu, nhưng không phải là con đường duy nhất và độc nhất cho mọi người, ở mọi thời và mọi nơi. Bên cạnh con đường cứu độ đặc biệt và độc sáng của Đức Kitô, còn nhiều con đường cứu độ khác. Hiểu theo ý nghĩa đó tất cả các tín đồ của các tôn giáo đều là thành viên của Nước Trời, được tuyển chọn và mời gọi, cùng với các Kitô hữu, để đi về Nhà Cha... khi thời gian viên mãn. 

Trên thực tế vẫn còn rất nhiều tranh luận chung quanh vấn đề này. Câu hỏi căn bản vẫn luôn luôn được đặt ra: Đức Kitô có còn giữ vai trò trung gian cố hữu nữa không trong viễn tượng một thần học lấy Thiên Chúa làm trung tâm? Có thể chấp nhận chủ trương theo đó, suốt dọc lịch sử, Thiên Chúa đã tự mặc khải cho nhân loại dưới nhiều dạng thức khác nhau qua lịch sử của các tôn giáo và như thế chỉ dành cho Đức Kitô một vai trò qui phạm nbào đó thôi? Ngay cả khi không còn bảo vệ quan niệm cổ điển về vai trò trung gian cứu độ phổ quát của Đức Kitô, phải chăng chúng ta vẫn phải tiếp tục dành cho Đức Kitô một địa vị ưu việt như là biểu tượng hoàn bị nhất, hoặc kiểu mẫu lý tưởng và qui phạm nhất trong chương trình cứu độ?[6]
____________
[1] Xem J. Daniélou, Les saints “paiens” de l’Ancien Testament, Paris, Seuil, 1957. 
[2] Xem Paul Tillich, The Kingdom of God and History, University of Chicago Press, 1983; J.B.Cobb & C.Ives, eds., The Emptying God: A Buddhist-Jewish-Christian Conversation, Maryknoll, New York, 1990; J. Hick, The Metaphor of God Incarnate: Christology in a Pluralistic Age, London, SCM Press, 1993. 
[3] V. Boublik, Teologia delle religioni, Roma, Studium, 1973, tr.41. Xin đọc thêm L. Artigas, Teologia della religione, in C. Cantone, Le scienze della religione oggi, Roma, 1981, tr. 233- 306. 
[4] Ibidem, tr. 38. 
[5] Indian Theological Association, Towards an Indian Christian Theology of Religious Pluralism, December 1989, n.8. 
[6] Xem E. Schillebeeckx, L’histoire des hommes, récit de Dieu, Paris, Cerf, 1992; “Université unique d’une figure historique nommée Jésus de Nazareth”, in Laval théologique et philosophique 50/2 (1994), tr. 265- 281; Cl. Geffré, “La singularité du Christianisme à l’âge du pluralisme religieux”, in Penser la foi: Recherches en théologie aujourd’hui..., ed. Doré & Theobald, Paris, Cerf, 1993, tr.351- 369; M. Amaladoss, “Being a Christian Community among Other Believing Communities: Theological and Pastoral Reflections and Questions”. Current Dialogue 26/2 (1994), tr.23- 33; A. Pieris, “University of Christianity?”, in Vidyajyoti 57 (1993), tr.591- 95; Basic Issues in Asian Buddhism and Christianity, New York, Maryknoll, 1996; J. Dupuis, Toward a Christian Theology of Religious Pluralism, Maryknoll, 1997.